![]() |
| Mitsubishi ASX VR-e mở bán từ quý IV/2026, có bản hai mô tơ mạnh 405 mã lực, pin LFP 57,5 kWh và tầm hoạt động tối đa khoảng 430 km. |
Mitsubishi xác nhận sẽ trở lại phân khúc ô tô điện tại Australia bằng mẫu SUV cỡ nhỏ ASX VR-e. Đây là xe thuần điện đầu tiên của hãng tại thị trường này kể từ i MiEV, mẫu xe từng được phân phối cách đây hơn một thập kỷ.
Dù sử dụng tên gọi ASX, ASX VR-e không liên quan trực tiếp đến mẫu SUV dùng động cơ đốt trong đang bán trên thị trường. Xe được phát triển từ Foxtron Bria, sản phẩm của Foxtron, công ty thuộc tập đoàn Foxconn của Đài Loan.
Sau khi tiếp nhận mẫu xe, Mitsubishi đã tiến hành thử nghiệm và tinh chỉnh tại địa phương nhằm đáp ứng điều kiện giao thông, khí hậu và nhu cầu sử dụng tại Australia, New Zealand.
Tên gọi VR e được lấy cảm hứng từ Galant VR 4, dòng sedan hiệu suất cao từng được Mitsubishi sản xuất trong giai đoạn 1987 đến 2002. Tuy nhiên, mẫu xe điện mới không sử dụng cơ cấu dẫn động bốn bánh Viscous Realtime 4WD như Galant VR 4.
Tại Australia, ASX VR-e dự kiến có bốn phiên bản gồm LS, Aspire, Exceed và GSR. Giá bán chưa được công bố, nhưng truyền thông địa phương dự đoán mức khởi điểm có thể tương đương hơn 700 triệu đồng sau quy đổi.
ASX VR e có chiều dài 4.315 mm, rộng 1.885 mm, cao 1.535 mm và chiều dài cơ sở 2.800 mm. Tổng chiều dài của xe tương đương nhiều mẫu SUV cỡ B, trong khi khoảng cách giữa hai trục lớn hơn Mitsubishi Xforce và tiệm cận Destinator.
Thông số này cho thấy ASX VR-e có thể hướng đến nhóm khách hàng cần một mẫu xe gọn để sử dụng trong đô thị nhưng vẫn ưu tiên không gian hàng ghế sau.
Ngoại hình xe phần lớn giữ lại thiết kế của Foxtron Bria. Mitsubishi bổ sung logo ba viên kim cương, dòng chữ thương hiệu phía sau và điều chỉnh nhẹ cụm đèn ban ngày. Cản trước có hốc dẫn khí S duct, kết hợp lưới tản nhiệt chủ động đóng hoặc mở tùy điều kiện vận hành nhằm giảm lực cản không khí.
Bên trong cabin là màn hình trung tâm 15,6 inch, bảng đồng hồ kỹ thuật số 9,2 inch, camera 360 độ, ghế trước chỉnh điện, cửa sổ trời toàn cảnh và đèn viền nội thất.
![]() |
Cấu hình tiêu chuẩn sử dụng một mô tơ đặt phía sau, công suất 233 mã lực và khả năng tăng tốc từ 0 lên 100km/h trong 6,8 giây. Bản cao hơn có hai mô tơ, dẫn động bốn bánh, tổng công suất 405 mã lực và hoàn thành bài tăng tốc tương tự trong 3,9 giây. Cả hai đều dùng pin LFP dung lượng 57,5 kWh. Phạm vi hoạt động dự kiến theo WLTP đạt khoảng 430 km với bản một mô tơ và 400 km với bản hai mô tơ.
Trương Long







